Viện Hàn lâm Khoa học Nga là chuyên gia đầu ngành về các ký sinh sống trong tế bà, mới đây đã công bố kết quả nghiên cứu trong nhiều năm về vi rut ký sinh, một bạn đường tình cờ với vi rut HIV đang đe doạ toàn nhân loại.
Khi có ai hỏi tôi làm nghề gì, tôi trả lời nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tế bào học. Tôi không nói ngay mình nghiên cứu về các bệnh ký sinh vì rất e ngại. Người ta có thể tự hào nói thẳng ra "tôi nghiên cứu vật lý hạt nhân" hoặc "tôi là chuyên gia lập trình máy tính". Nhưng rất ngại khi nói mình nghiên cứu về các loài sống ký sinh. Xã hội thường có cảm nhận tiêu cực về lĩnh vực này và cả đối với những người nghiên cứu trong lĩnh vực đó. Nhưng dẫu sao, tôi rất sung sướng và hạnh phúc vì mình đã bỏ ra cả cuộc đời để nghiên cứu toàn diện về các sinh thể sống ký sinh trong cơ thể người và động vật. Nhờ đó mà ngày nay chúng ta đang mở ra khả năng hạn chế tác động vô cũng nguy hiểm của đại dịch HIV/AID. Sau nhiều năm nghiên cứu ở Đại học tổng hợp quốc gia Lê-nin-grat, nay là Xanh Pê-téc-bua, và Viện Hàn lâm Y học Nga, chúng tôi đã khám phá ra bí mật quá trình tương tác giữa các sinh thể ký sinh với tế bào và cũng từ đó khám phá được những điều mới mẻ trong quan hệ giao tiếp giữa người với người trong xã hội.
Ký sinh là một hiện tượng sinh học rất phổ biến mà tất thảy các sinh thể sống bằng cách này hay cách khách đều vận dụng trong quá trình tiến hoá. Các bệnh lây truyền ký sinh gây ra nhiều bệnh lý đa dạng, đôi khi rất đặc thù. Các sinh thể sống ký sinh lại có ở khắp mọi nơi, mọi chốn, và có thể lây nhiễm bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào, bất kỳ đâu, nhưng con người không hề nhận thấy, không cảm thấy. Trong số các sinh thể sống ký sinh thì phổ biến nhất và nguy hiểm nhất là các sinh thể ký sinh ngay trong lòng tế bào sống. Ta gọi chúng là "tế bào trong tế bào" hoặc "bom nổ chậm trong tế bào".
Thông thường, khi bị lây nhiễm bệnh ký sinh, một trong những cơ thể (gọi là cơ thể chủ) được dùng làm môi trường sống cho một cơ thể khác (gọi là cơ thể ký sinh). Do sống ký sinh, cơ thể ký sinh phải hoàn toàn phụ thuộc về mặt sinh thái vào cơ thể chủ, phải "chung sống hoà bình" với nhau. Dĩ nhiên, trong cuộc chung sống đó thì cơ thể chủ bao giờ cũng bị hại, còn cơ thể ký sinh được lợi. Do đó, hệ thống tương tác cơ thể chủ - cơ thể ký sinh hình thành một "liên minh" bền vững. Trong môi trường đó con người ít may mắn hơn so với động vật. Bởi lẽ, con người do có lịch sử tiến hoá ngắn hơn so với động vật nên chưa tạo ra được "quan hệ chung sống hoà bình" với các sinh thể ký sinh. Do đó, đối với con người, tất cả các sinh thể ký sinh đều là sinh thể gây bệnh, có tác động bệnh lý.
Thật là một thảm hoạ, khi con người chưa thích nghi được với các sinh thể ký sinh ngay trong tế bào của mình thì vào cuối thế kỷ XX con người bị lây nhiễm một loại vi rút gây hiệu ứng suy giảm khả năng miễn dịch. Đó là vi rút HIV. Ta vẫn cho rằng HIV là vi rút gây chết người, vô phương cứu chữa. Nhưng thực ra, HIV không làm chết người theo nghĩa trực tiếp. Chúng chỉ làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể và lúc đó, các sinh thể lâu nay sống ký sinh trong cơ thể người có cơ hội phát triển dữ dội và gây ra nhiều bệnh lý khác nhau như viêm phổi, nhồi máu cơ tim, viêm nhiễm các cơ quan nội tạng và dẫn đến tử vong. Những bệnh lý đó được gọi là những "căn bệnh có điều kiện" hoặc "căn bệnh cơ hội", nghĩa là các sinh thể sống ký sinh trong tế bào chờ cơ hội thuận lợi, hoặc điều kiện thuận lợi sẽ bùng phát và tàn phá cơ thể. Lúc đó, trạng thái "chung sống hoà bình" giữa tế bào lành và tế bào ký sinh không còn nữa.
Vì thế, khi chúng ta chưa có phương tiện tiêu diệt được vi rút HIV, thì giải pháp tốt nhất để kéo dài tuổi thọ cho những bệnh nhân HIV/AIDS đòi hỏi nỗ lực tổng hợp của các chuyên gia sinh học, vi trùng học, miễn dịch học, y học, trong đó ngăn chặn các bệnh cơ hội có ý nghĩa quyết định.
Khoảng 3/4 số bệnh nhân AIDS chết là do các bệnh cơ hội, bệnh điều kiện. Các nhà khoa học gọi đó các bệnh hệ quả của AIDS. Trong đó, đáng chú ý nhất là bệnh cơ hội do một loài nấm gây ra, gọi là nấm Pneumocystis Carinil.
Thế nào là bản chất bệnh cơ hội ? Theo định nghĩa chung, đó là bệnh lây nhiễm do các vi khuẩn gây bệnh có điều kiện sinh ra. Khi bị lây nhiễm, con người không cảm thấy các triệu chứng bệnh lý. ở người khoẻ mạnh, bệnh cơ hội không có biểu hiện gì. Chỉ khi hệ thống miễn dịch bị suy giảm, bị yếu đi, bệnh cơ hội mới có điều kiện phát sinh. Tất nhiên cách định nghĩa đó chưa phản ánh được bản chất của bệnh cơ hội vì phải dựa vào các dấu hiệu của cơ thể chủ, chứ không phải dấu hiệu của chính cơ thể ký sinh. Như vậy, có một số cơ thể ký sinh biết lợi dụng cơ hội suy giảm miễn dịch do nhiễm HIV, một số khác không nhạy cảm với HIV.
Trong khi đi tìm bản chất các sinh thể ký sinh gây ra bệnh cơ hội, chúng tôi đã so sánh chu kỳ vòng đời của các loại cơ thể ký sinh và xác định được trong vô vàn các sinh thể ký sinh gây bệnh chỉ có một số có khả năng gây nên bệnh dịch có thể dẫn đến chết người. Đó là các vi khuẩn Toxoplasma Gondil, isospora balli, Cryptosporidium parvum, Cyclospora sp.
Trong những năm 1990, chúng tôi đã xây dựng được giả thuyết về bệnh cơ hội. Theo giả thuyết này, trong vòng đời của các sinh thể gây bệnh cơ hội có các giai đoạn, trong đó các sinh thể sống yên ổn trong tế bào cơ thể chủ có hệ thống miễn dịch bình thường trong một thời gian dài. Chúng thường sống trong tế bào các cơ quan như não, các cơ, là những nơi ít có các bạch cầu lui tới. Khi khả năng miễn dịch suy giảm, số tế bào miễn dịch T- 4 trong máu cơ thể chủ giảm dần, chỉ còn khoảng 200 trong một micro lít máu. Lúc đó, giai đoạn "ngủ yên" của các sinh thể ký sinh chấm dứt. Chúng bắt đầu nhân bản dữ dội và gây bệnh cho cơ thể chủ.
Việc cơ thể chủ bị lây nhiễm vi rút ký sinh và bị nhiễm bệnh HIV/AID là hai giai đoạn cách nhau về thời gian và không gian. Thí dụ, con người có thể bị lây nhiễm vi rút T.gondil từ bé, còn bị nhiễm HIV khi đã trưởng thành. Lúc đó, các bộ phận bị nhiễm vi rút ký sinh bắt đầu kích hoạt sau nhiều năm yên tĩnh. Nghĩa là, một người nào đó bị lây nhiễm vi rút ký sinh thì suốt đời mang nó trong mình, không thể thoát ra được, không rũ bỏ được, giống như mang trong mình quả bom nổ chậm chưa nổ. Qủa bom chỉ nổ khi người đó bị nhiễm HIV/AID. Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong việc hạn chế tác dụng của đại dịch thế kỷ đang đe doạ toàn nhân loại.